Nhớ người xưa - trích tiẻu thuyết Hoàng Văn Bổn

alt

Trích chương mười một trong tiểu thuyết cùng tên cùa nhà văn Hoàng Văn Bổn (NXB Đồng Nai 2003)

 

Mặt trời vừa ló khỏi ngọn cây cao cánh rừng già giáp cánh đồng người người đã gồng gánh đổ ra đồng chuyện trò vui vẻ. Đàn trâu gõ móng trên con đường làng khô ráo nghé ngọ húc vào bụng nhau liếm nước đái sau đít các con trâu cái lim dim mắt nhìn ông mặt trời mỉm cười râu cằm dính đầy nước bọt thèm thuồng. Trên các thửa ruộng vừa gặt xong chiếc máy cày ai nổ máy giòn giã làn khói mỏng cuốn lên cao hòa vào đám mây trắng sương núi lảng vảng bầu trời đầy tiếng chim và tiếng rừng tiếng thú nhắn tín hiệu tìm nhau…

Giữa đám người gặt lúa bằng lưởi liềm có Sáu Nở Út Thiện Cà Ngá và già làng cùng hơn chục trai tráng người Châu Ro người Châu Mạ…

Nơi nào có Sáu Nở nơi đó rộ lên tiếng cười tiếng kể chuyện đời xưa… Sáu Nở miệng kể tay quơ từng nạm lúa chín oằn siết lưỡi liềm ngọt xớt. Phải nói Sáu Nở đúng là con nhà nông. Tuy tuổi đã cao lưng đã mỏi nhưng tay liềm vẫn còn nhanh lắm. Xoạt xoạt… Vạt lúa chín vàng của cô phóng nhanh giửa đám ruộng sóng lúa lượn rỡn mát mắt. Hai bên lối lúa của cô hàng chục trai gái đưa tay quơ lúa tay siết liềm xoàn xoạt ngon lành… Nhiều chú chim cút mật chơi trò cút bắt núp kín dưới gốc lúa vụt cất cánh vù là là mặt ruộng như lưởi lửa.

Gần bờ sông giữa  cánh đồng nước vang đến tiếng chim đa đa ra rả đòi nợ: “Đa đa hốt cát trả ta. Đa đa…”. Tiếng chim cúm núm chân đỏ mỏ đỏ khệnh khạng trên những cành lúa trời cỏ ba lá rợp mặt nước… Trên bầu trời trong xanh thành hình mũi tên từng đàn cò trắng nghểnh cổ nhìn xuống đôi mắt láo liên tìm những vũng nước có nhiều cá cạn… Vịt trời quàng quạc nơi nơi từ trên cao lao đứng xuống nước bắn toé trong ánh mặt trời hiện muôn vàn vòm ngũ sắc…

Chuyện đời xưa mà Sáu Nở say sưa kể cho lớp hậu sanh nghe khi cắt lúa thực ra chẳng “xưa” chút nào. Nó chỉ là chuyện kháng chiến ở vùng miền Đông này của cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ mà thôi. Nhưng với lớp trai tráng lứa tuổi đôi mươi  đó là chuyện đời xưa chuyện thần thoại say đắm những câu chuyện tình yêu chung thủy cao đẹp ngày nay không thể tìm đâu ra…

Quanh những bồ đập lúa Sáu Nở vẫn câu chuyện đời xưa ấy lúa hạt bắn rào rào vào thành cà-tăng. Từng nạm lúa đập ành ạch vào ghế láng bóng hạt lúa chảy rào rào trên lưng ghế. Các người già Châu Ro chưa quen cắt lúa đập lúa nước kiểu này thích thú kéo nhau ra đồng khi gà vừa ra chuồng con chim “dài tên” ríu rít gọi nhau ra ruộng.

Họ học làm ruộng lúa nước vừa nghe Sáu Nở và Út Thiện kể chuyện “đời xưa”...

Từ ngày Sáu Nở và Út Thiện lên đến nay cái làng “Kinh tế mới” hẻo lánh này như có thêm da thịt. Công việc đồng áng đi rừng cũng có náo nức và nhiều việc làm hơn: Mùa tìm mật ong các chàng trai đua nhau vác ná tên cả súng của dân quân lủi rừng có đợt cả tuần lể mới về đem về làng cả thịt phơi khô mật ong mật gấu cả gấu con chim rừng mới đâm lông mái chèo khỉ con từng bầy…

 Họ còn tụ tập đàn thợ săn rủ nhau lên rừng cao dàn ra săn thú chủ yếu là săn heo rừng nai mễn… đôi khi gặp cả cọp dữ bị săn gom vào lưới thế là la hoảng bắn súng cho nó lao vọt qua đầu tẩu thoát…

Một lần trong một đợt rầm rộ như thế họ phát hiện hai người lưng khòm mặt thân người đầy lông lá bị dồn vào tận đáy lưới. Hai “người rừng” ấy kêu ú ớ tay khoát khoát trước mặt mắt toé lửa lân tinh như mắt mèo rừng… Một chàng trai hoảng quá múa lao định phóng liền bị họ bắt lao bẻ cong một cách dễ dàng lại nói gì đó…

Khi Hồng Loan Sáu Nở và Út Thiện chạy tới nơi hai “người rừng” ấy đã mệt lả buồn rũ bên gốc cây cẩm lai cổ thụ có lẽ rất quen thuộc với họ.

Hồng Loan ra hiệu nói chuyện cả bằng tay với họ. Lát lâu sau một người rừng mặt nhiều lông đen sì trợn mắt nhìn Hồng Loan rất chăm chú há miệng định kêu gì đó như là mừng rỡ như là hoảng sợ:

- An… An…

Sáu Nở Hồng Loan bước lại gần người đó coi sao. Hồng Loan đánh bạo nắm tay Sáu Nở bước lại gần người đó họ lùi dần vào bọng cây cẩm lai cổ thụ hai tay huơ huơ phía trước hai mắt lấm lét…

Từ trong hang lao vụt ra hai con trăn bông dài hằng năm sáu thước nặng độ vài chục ký… Hai con trâu lao thẳng vào Hồng Loan và Sáu Nở khiến các chàng trai hoảng sợ la toáng lên định bắn chúng. Hồng Loan vội vàng khoát tay:

- Không được bắn chúng. Trăn nuôi của họ đó.

Thừa lúa ấy hai “người rừng” vụt chạy biến lên rừng cao tanh tưởi mùi lá mục nấm lân tinh và khí lạnh âm u quanh năm…

Sáu Nở bàng hoàng nhìn Hồng Loan ý hỏi họ là ai? Hồng Loan cũng nhìn lại Sáu Nở Út Thiện và các chàng trai thiểu số tuổi còn trẻ với câu hỏi ấy.

Tự nhiên Út Thiện và các chàng trai thiểu số túa ra sục tìm cánh rừng già bốn chung quanh cả các hẻm núi đá lạnh lẽo đầy rêu.

Hồng Loan cùng Sáu Nở cũng lủi rừng kêu hú vang dậy như đi săn:

- Ơơơơi… Huơơơ…

Chỉ có các hẻm núi thâm u dội lại tiếng hú gọi.

Đàn khỉ hàng vài chục con bị động rừng nhảy nhót nhe răng trợn mắt cào nách khoọc khẹc chuyển từ cành cây này sang cành cây khác bẻ trái cám chín nâu trái cơm nguội quẳng xuống đoàn người dám xâm phạm vào vương quốc của chúng… Hai con khỉ dọc lông lá xồm xoàn còn dám cà khịt cà khịt nảy nảy bụng dưới Hồng Loan khiến Hồng Loan đỏ mặt kêu rú. Sáu Nở chạy đến lượm đá cục chọi liên tiếp hàng chục cục chúng mới chịu rút lui… Sáu Nở cười rũ rượi cùng Hồng Loan đang tái mặt rưng rưng hai mắt:

- Cô em còn đẹp quá mà. Hoa khôi thần đồng Hồng Loan mà chúng không mê sao được?

Hồng Loan đang mếu cũng bật cười:

- Cái chị này. Em đang khổ tâm đủ thứ đây chị còn chọc ghẹo hoài. Các báo ở Sài Gòn cứ tung tin là “Hoa khôi thần đồng Hồng Loan” giơ là nử chúa Sơn Lâm là chủ trang trại là chúa đảng Lâm sơn trại.

- Kệ tía họ. Có miệng có chữ nghĩa có báo họ muốn nói gì mà không được em ? Cũng tại cái ông tài khôn Út Thiện kia kìa. Tự dưng lại viết sách viết báo cho mấy cái thằng nhà báo Sài Gòn săn tìm được mới nên chuyện. Rồi còn mấy tờ lá cải bên Mỹ nữa… Nghe đâu mấy bà nội Trần Thanh Hoa Trần Hoa Lệ với mấy tú tài bộ trưởng cố vấn ngày xưa cũng hùa vô la lối dữ lắm: Nào hoa khôi thần đồng Hồng Loan bị Cộng sản đày đi cải tạo lao động mút mùa tại Mã Đà Bà Hào quanh năm làm bạn làm duyên với khỉ già khỉ khô cóc nhái đười ươi…

Hồng Loan nguýt út Thiện đang làm ám hiệu cho cô im lặng chịu thua Sáu Nở có xấu mặt nào. Sáu Nở nhìn thấy la lớn:

- Thôi nghe ông thầy chùa già lão lai tài tận. Lỡ cho người ta in bậy bạ vài mẩu chuyện “đời xưa” vậy thôi nghe. Đừng có làm khổ nhỏ Hồng Loan nữa…

Út Thiện trèo lên đỉnh gò mối cao lút đầu người nhìn bốn phía tìm dấu vết “người rừng” này phải lên báo Sài Gòn với nội dung hấp dẫn… Nghĩ vậy ông thầy chùa nhà văn xứ rừng già lỏn lẻn cười hai cái răng cửa vẹo hẳn ra ngoài nhễu nhão đầy nước bọt…

Một chàng trai huơ chà gạc chạy về gọi Hồng Loan:

- Có cái hang sâu lắm giống như kho gạo hay kho vũ khí ngày xưa…

Út Thiện Sáu Nở Hồng Loan củng các chàng trai chạy nhanh đến miệng hang rộng hun hút. Út Thiện chui vào trước. Một luồng dơi quạ  sải cánh rộng ba gang tay từ trong hang bay vụt ra hàng trăm con đập cả vào mặt Út Thiện Hồng Loan Sáu Nở. Các chàng trai tối tăm mặt mũi hai tay huơ lung tung đập trúng hàng chục dơi quạ…

Tỉnh lại Hồng Loan và Út Thiện lò dò vào tận bên trong hang càng vào sâu khí lạnh càng nặng nề hoang giá. Út Thiện bảo Sáu Nở đốt đuốc tre khô… Có lửa khí lạnh bớt nặng nề. Đàn dơi quạ không bay sà vào mặt mũi tóc tai Hồng Loan.

- Kho gạo hay kho vũ khí gì đó… - Hồng Loan thì thầm vào tai Sáu Nở- Đã hơn hai chục năm trời rồi. Không còn hột gạo nào đâu súng ống cũng bị rỉ sét hết rồi…

Út Thiện lượm được hai khúc sắt rỉ giống hình hài khẩu tiểu liên bàng hoàng nhìn ngó mãi mới thì thầm bảo nhỏ Sáu Nở:

- Bà nhớ kỹ lại coi hồi trận Là Ngà nổi tiếng mấy chú bộ đội chủ lực rút hết chỉ còn lại bộ đội địa phương vùng đồng báo thiểu số có tin mấy người mất tích nghi là bị cọp ba móng ăn thịt. Về sau hóa ra là các chú ấy đang coi kho gạo kho vũ khí không có lệnh rút đi theo bộ đội chủ lực… đúng không?

Sáu Nở và Hồng Loan tần ngần nhìn nhau bồi hồi:

- Chẳng lẽ hai “người rừng” này là hai người coi kho vũ khí lương thực cho mặt trận La Ngà… tới bây giờ?

- Hồi đó kỷ luật bộ đội nghiêm lắm lại tự nguyện không có lệnh rút là có chết cũng không được tự động bỏ kho… Nay đã hơn hai chục năm trời rồi… Gạo thì sẵn đó nhưng bị mục nát hết rối.

Hồng Loan nói thêm:

- Lúc chưa giải phóng tôi đọc báo có cái tin: Ở Philippin có mấy người Nhật bị lạc giữa rừng không biết tin “Chiến tranh thế giới thứ hai” đã kết thúc vẫn cứ ở mãi trong rừng gần như hóa thành người rừng…

Sáu Nở Hồng Loan  Út Thiện… và các chàng trai tỏa ra sục tìm họ một lần nữa kêu hú vang rừng…

Cuối cùng khi mặt trời sắp lặn họ đành phải ra về. Hồng Hoan ngậm ngùi bảo:

- Ghi nhớ cánh rừng này mỗi tuần lễ ta cho người đến đây mang gạo mắm muối khoai củ tiếp tế cho họ. Biết đâu dần dần họ tỉnh lại tìm về với chúng ta… Nguồn gốc xà niêng… cũng na ná thế này thôi. Họ mang bao tay bằng ống tre ngậm ngải độc vào rừng bắt thú về bán nuôi vợ con. Mỗi sáng người vợ ở nhà phải thức sớm khi họ mang thú rừng trở về ra đập mạnh đồ dơ lên đầu họ cho tan ngải độc mới tỉnh lại làm người… Người vợ vì thức trắng đêm chăm sóc con nhỏ ngủ quên… người chồng ngậm ngải độc vác con nai trên lưng trở về không được vợ đập chổi dơ lên đầu cho tan ngải độc lại vác thú rừng trở vô rừng thành người của rừng già… Sáng nào người vợ cũng đặt hai tô cơm khoai củ ngoài đầu ngõ chồng về lấy cái ăn lại vào rừng. Dần dà người chồng đi bằng hai tay hai chân người mọc lông lá như thú rừng…

Câu chuyện “Xà niêng” của Hồng Loan kể khiến Sáu Nở Út Thiện các thanh niên trong làng buồn nghiến. Sáu Nở lau nước mắt bảo:

- Có thể hai người này là hai chiến sĩ bảo vệ kho vũ khí lương thực cho trung đoàn 310 của ông Tám Nghệ đúng vậy.

- Bây giờ tìm họ khó lắm. Có khi họ ở sát bên mình nhưng không lên tiếng vì sợ con người… Cũng có thể mấy năm qua họ từng đụng độ với nhiều toán biệt kích của Phun rô phe cánh “Phục quốc” của bọn Đờ Mên Mai Túy rất nhiều lần thập thò ở biên giới Campuchia- Việt Nam Lào- Việt…

… Từ đó mỗi tuần hai lần Hồng Loan Sáu Nở và Út Thiện cho người đến vùng rừng có kho vũ khí năm xưa mang theo gạo cơm nóng mắm muối quần áo và một lá thư ngắn nhắc lại chuyện xưa rằng đất nước đã được giải phóng hoàn toàn rồi nên trở về làng cùng chúng tôi tìm liên lạc với Bảy Lì chú Kỳ hoa khôi Hồng Loan Sáu Nở…

Tháng thứ nhất khi Út Thiện đến thấy thức ăn đã được sử dụng. Gạo mắm muối và quần áo cũng đã được cất đâu đó. Cạnh chỗ để thức ăn thấy có mấy tờ giấy đã mục bị mối đục khoét như kim châm. Trong cửa hang còn có mảnh giấy lành có ghi chi chít nhiều hình thú có hình con nai dễ thương… Có thể đây là thư của họ trao gởi lại bọn mình. Út Thiện nghĩ thế rất mừng hai hàng nước mắt nhòa trang giấy mực.

Câu chuyện “Người rừng” ấy đã được Út Thiện viết lại theo thể ghi chép nóng hổi được Hồng Loan dịch khá thành công đăng trên một tờ báo lớn ở Sài Gòn… Sau đó có nhiều người ở khắp các thành phố làng mạc ở miền Nam miền Đông Nam bộ tìm đến cái làng “Kinh tế mới” của Hồng Loan đòi được đưa đi tìm “người rừng”. Có một bà tuổi độ sáu mươi tóc bạc trắng mặt nhăn nheo lưng hơi còng bảo là vợ của một chiến sĩ hậu cần năm xưa của ông Tám Nghệ được phân công coi kho vũ khí ở rừng miền Đông này … Út Thiện đành cùng hai thanh niên khỏe mạnh súng ống đầy đủ dẫn người đàn bà ấy vào kho vũ khí năm xưa. Trời chiều rừng tối đen hun hút. Chỉ nghe tiếng vượn hú khỉ khoọc khẹc nai tác xa xa… Khi đến cửa hang người đàn bà quỳ sụp xuống khóc than thảm thiết. Làm sao biết được một trong hai người rừng ấy là chồng của  chị? Nhưng việc ấy hình như không quan trọng. Cái chính là chị đã gặp lại được nơi chồng chị từng ôm súng chiến đấu với ông Tám Huỳnh Văn Nghệ những năm cực kỳ gian khổ. Chị tìm lượm được vài mảnh quần áo rách mục vài que sắt thép rỉ có thể là súng là lượi lê là vỏ lựu đạn… mà chồng chị năm xưa đã một mực trung thành coi giữ đến ngày nay…

Đã có đến hàng trăm người ông già bà già lặn lội đến làng “Kinh tế mới” để được nhìn cửa hang từng là kho vũ khí của mặt trận La Ngà năm xưa…

Cho đến một hôm Út Thiện và Hồng Loan cảm thấy nóng ruột thế nào ấy bảo Sáu Nở:

- Phải vô đó coi sao? Nóng ruột quá.

- Đêm qua tôi ngủ nằm mơ không vui lắm… - Sáu Nở bảo giọng nghẹn ngào.

Thế là Sáu Nở chuẩn bị quần áo chăn mền gạo mắm đầy đủ. Hồng Loan Út Thiện và ba chàng trai châu Ro mang đầy đù vũ khí ra đi. Những lần trước họ đi một mạch là đến nơi. Sao lần này lại bị lạc? Hồng Loan thắc mắc. Út Thiện cũng sinh nghi bảo Hồng Loan lùi lại phía sau. Ông cùng hai thanh niên mang súng lựu đạn đi trước. Đến gần sáng sắp đến nơi bỗng có nhiều tiếng súng tiếng lựu đạn nổ ran chỗ cửa hang. Hai chàng trai chạy nhanh đến quăng lựu đạn và bắn theo kiểu chia lửa thời chiến tranh… Út Thiện có kinh nghiệm chiến đấu hơn bọc hậu phía trái cửa hang quẳng một trái lựu đạn OF.

Vài phút sau tiếng súng im bặt.

Út Thiện và Hồng Loan bò vào cửa hang hai chàng trai gác bên ngoài. Ở cửa hang vương vãi vỏ đạn tiểu liên còn sáng loáng nhiều mảnh trăng bắng loang máu... Hồng Loan bảo Út Thiện:

- Vỏ đạn này là của đội quân biệt kích của Mỹ. Người rừng không có loại đạn còn mới thế này đâu. Cả bông băng cũng vậy...

Út Thiện vỗ tay tiếc rẻ:

- Tại sao tụi mình bị lạc hả? Nếu không bị lạc đã tới kịp rồi.

Hồng Loan ứa nước mắt cố tìm xem hai người rừng có sao không?

Vào tận đáy hang xem xét trở ra Hồng Hoan lắc  đầu nước mắt lưng tròng:

- Cầu trời họ tránh bọn mình thôi...

- Có khi nào họ ... - Một thanh niên Châu ro giọng nghẹn lại.

- Đừng nói bậy. Không có chuyện đó đâu. – Út Thiện nạt lớn.

Hồng Loan im lặng nhưng lồng ngực nghẹn thắt hai hàng nước mắt rưng rưng...

Từ đó chiều nào họ cũng rảo một vòng quanh làng sực vào những cánh rừng gần cửa hang mang theo nào cơm trắng gạo mắm nước uống cả thuốc chống sốt rét nửa. Nhưng lần nào họ cũng về không. Thức ăn gạo mắm đặt tại cửa hang vẫn còn nguyên... Cũng có lần Hồng Loan reo to khi trông thấy số gạo mắm ở cửa hang có bị hao hụt. Nhưng xem lại đấy là do khỉ... Chỉ có khỉ lai vãng chốn này thôi.

... Từ nay Út Thiện Hồng Loan Sáu Nở ngoài công việc hàng ngày ra còn thêm công việc thiêng liêng khi có nhiều đoàn người ở khắp nơi đổ về tìm kiếm người thân bị mất tích trong chiến tranh. Nhiều chuyến đi hàng tháng sục tìm tận nơi núi cao hang hốc thâm u là những nơi bộ đội từng đóng quân là các trạm y tế bệnh viện kháng chiến của bác sĩ Võ Cương chị Tương... Họ đã tìm được nhiều ngôi mộ vô danh cho xương cốt người hy sinh vào ba lô gùi trên lưng lội suối trèo đèo...

... Làng “Kinh tế mới“ nay đã có thêm chợ búa trường học trại chăn nuôi bò sữa trại trẻ... Nhiều cô gái  thành thị lên đây dạy học trông trẻ... Nhiều bà là vợ các chiến sĩ đã hy sinh trong chiến đấu lên đây lập nghiệp coi sóc mồ mả chồng cha anh em...

Làng còn liên kết với các nông trường chung quanh lập các trại nuôi nai hươu lấy nhung mở nghề nuôi cá bè dưới sông Đồng Nai mở một bệnh xá chung cho cả nông trường nuôi một bác sĩ lớn tuổi vốn là bác sĩ quân đội thời kháng chiến ở vùng này. Chủ yếu là quá nhớ rừng nhớ đồng đội nên vị bác sĩ không thể hưởng sung sướng tuổi già với đồng lương hưu ở thành thị. Nhớ lắm. Không thể nào quên được... Nhớ từng trận mưa cơn nóng trận giông nhớ từng con suối không tên cái râu con cá ngủ dưới suối con khỉ leo trèo trước chòi.

 

Nguồn: Văn nghệ Đồng Nai